Nguyên nhân bệnh mãn tính

Bệnh mãn tính thường không xác định được nguyên nhân cụ thể mà chỉ có một nhóm yếu tố nguy cơ góp phần làm bệnh phát triển gồm: Yếu tố về hành vi lối sống như hút thuốc lá; lạm dùng rượu, bia; dinh dưỡng không hợp lý và ít hoạt động thể lực. Các yếu tố nguy cơ về hành vi sẽ dẫn tới các biến đổi về sinh lý/ chuyển hóa bao gồm: THA, thừa cân béo phì, tăng đường máu và rối loạn lipid máu và hậu quả là các bệnh mạch vành tim, đột quỵ, đái tháo đường, ung thư…

Dưới đây là một số yếu tố nguy cơ gây bệnh mãn tính.

  1. Hút thuốc lá:

Hút thuốc lá ước tính là nguyên nhân của 71% số trường hợp ung thư phổi; 42% số trường hợp bệnh phổi mạn tính; và 10% các bệnh tim mạch. Hút thuốc lá còn là yếu tố nguy cơ của một số bệnh nhiễm trùng như lao phổi và nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới.

Trên thế giới mỗi năm có khoảng 6 triệu người tử vong do thuốc lá, bao gồm cả do hút thuốc thụ động. Đến năm 2020 con số này sẽ tăng lên đến 7,5 triệu người, chiếm khoảng 10% tổng số tử vong toàn cầu.

2. Sử dụng rượu, bia có hại:

Rượu, bia và các đồ uống có cồn khác là chất gây nghiện, vì vậy Tổ chức Y tế thế giới đã khuyến cáo để đảm bảo cho sức khỏe tốt nhất là không uống rượu, bia.

Năm 2012 có 5,9% số trường hợp tử vong toàn cầu, tương đương 3,3 triệu người là do sử dụng rượu, bia, trong đó phần lớn là hậu quả của các nhóm bệnh không lây nhiễm gồm: tim mạch, đái tháo đường (33,4%), 9 loại bệnh ung thư (12,5%), bệnh về tiêu hóa ( 16,2%), chấn thương (25,8%) và rối loạn phát triển bào thai và các biến chứng sin non do rượu (0,1%).

3. Dinh dưỡng không hợp lý:

Ăn ít rau và trái cây được cho là nguyên nhân của 1,7 triệu trường hợp tử vong, chiếm 2,8% tổng số tử vong trên thế giới. Ăn ít rau và trái cây ước tính là nguyên nhân của 19% số ung thư dạ dày ruột, 31% các bệnh thiếu máu cơ tim cục bộ và 11% số trường hợp đột quỵ.

Ăn ít nhất 400g rau và trái cây mỗi ngày giúp phòng chống các bệnh mạn tính liên quan đến dinh dưỡng như các bệnh tim mạch, ung thư dạ dày và ung thư đại trực tràng.

4. Ít hoạt động thể lực: 

Ít hoạt động thể lực là yếu tố nguy cơ đứng hàng thứ tư của tử vong. Một số người ít vận động sẽ tăng từ 20 – 30% nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân nếu so sánh với một người vận động cường độ vừa phải ít nhất 30 phút mỗi ngày trong hầu hết các ngày của tuần.

Nếu hoạt động thể lực mức độ vừa phải 150 phút/ tuần ước tính có thể giảm 30% nguy cơ bệnh tim thiếu máu cục bộ, giảm 27% nguy cơ ĐTĐ, và giảm 21 – 25% nguy cơ ung thư vú và ung thư đại trực tràng. Hoạt động thể lực còn làm giảm nguy cơ đột quỵ ,THA, trầm cảm, và giúp kiểm soát cân nặng.